Ngày Quốc tế Phụ nữ 8/3 được nhắc tới trong hành trình đấu tranh kiên trì, bền bỉ và đầy bản lĩnh của phụ nữ nhằm khẳng định quyền sống, quyền tự do và vị thế xã hội của mình. Đây không đơn thuần là một ngày kỷ niệm mang tính hình thức mà là dấu mốc giàu ý nghĩa chính trị – xã hội, thể hiện khát vọng về công bằng, là biểu tượng của tinh thần vượt qua định kiến, đồng thời khẳng định vai trò quan trọng, không thể thay thế của phụ nữ trong sự phát triển và tiến bộ của nhân loại.
Nhìn lại lịch sử, ngày 8/3 bắt đầu từ sự áp bức và đấu tranh của công nhân tại những xưởng may tại Mỹ cuối thế kỷ XIX. – nơi phụ nữ lao động phải đối mặt với điều kiện làm việc khắc nghiệt và sự bất công kéo dài. Cuối thế kỷ XIX, sự phát triển của khoa học công nghệ trong cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ hai đã làm cho chủ nghĩa tư bản ở Mỹ đã phát triển một cách mạnh mẽ. Trong bối cảnh xã hội công nghiệp còn nhiều bất công, nền kinh tế tư bản chủ nghĩa phát triển nhưng phụ nữ phải làm việc với đồng lương rẻ mạt và thời gian lao động kéo dài. Căm phẫn trước sự bất công đó, ngày 8/3/1857, nữ công nhân nước Mỹ đã đứng lên đấu tranh đòi tăng lương, giảm giờ làm. Phong trào bắt đầu từ nữ công nhân ngành dệt và ngành may tại hai thành phố Chi-ca-gô và New York. Mặc dù bị bọn tư bản thẳng tay đàn áp, chị em vẫn đoàn kết chặt chẽ, bền bỉ đấu tranh buộc chúng phải nhượng bộ. Những cuộc biểu tình đòi tăng lương, giảm giờ làm, cải thiện điều kiện làm việc đã diễn ra mạnh mẽ. Đến ngày 8/3/1908, 15.000 phụ nữ diễu hành trên các đường phố New York đòi tăng lương, giảm giờ làm việc và hủy bỏ việc bắt trẻ con làm việc. Sau đó, Đảng Xã hội Hoa Kỳ tuyên bố Ngày Quốc tế Phụ nữ là ngày 28/2/1909.
Tại Hội nghị Phụ nữ do Quốc tế thứ 2 (Quốc tế Xã hội chủ nghĩa) tổ chức vào ngày 8/3/1910, 100 đại biểu phụ nữ thuộc 17 nước đòi quyền bầu cử cho phụ nữ. Chủ tịch Hội nghị là bà Clara Zetkin, phụ nữ Đức đã đề nghị chọn một ngày quốc tế phụ nữ để nhớ ơn những phụ nữ đã đấu tranh trên toàn thế giới. Hội nghị đã quyết định chọn ngày 8/3 làm Ngày Quốc tế Phụ nữ, ngày đoàn kết đấu tranh của phụ nữ với những khẩu hiệu: “Ngày làm việc 8 giờ”, “Việc làm ngang nhau”, “Bảo vệ bà mẹ và trẻ em”. Từ đó, ngày 8/3 hàng năm trở thành ngày đấu tranh chung của phụ nữ lao động trên toàn thế giới, là biểu dương ý chí đấu tranh của phụ nữ khắp nơi trên thế giới đấu tranh vì độc lập dân tộc, dân chủ, hòa bình và tiến bộ xã hội; vì quyền lợi hạnh phúc của phụ nữ và nhi đồng.
Năm 1975, ngày Quốc tế Phụ nữ 8/3 được Liên hợp quốc chính thức công nhận và kêu gọi các quốc gia thành viên kỷ niệm Ngày Quốc tế Phụ nữ, khẳng định vai trò trung tâm của phụ nữ trong sự phát triển bền vững, hòa bình và thịnh vượng của nhân loại.
Tại Việt Nam, ngày 8/3 còn gắn với niềm tự hào dân tộc, với tinh thần của cuộc Khởi nghĩa Hai Bà Trưng – một dấu mốc tiêu biểu trong lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc. Hai vị nữ anh hùng Hai Bà Trưng đã đứng lên lãnh đạo nhân dân chống lại ách đô hộ phương Bắc, khẳng định ý chí độc lập và chủ quyền của đất nước. Trong suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước, người phụ nữ Việt Nam đã tôi luyện nên khí chất "Anh hùng, Bất khuất, Trung hậu, Đảm đang".
Kế thừa truyền thống dân tộc, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi việc giải phóng phụ nữ là một trong những mục tiêu đấu tranh cơ bản của sự nghiệp cách mạng. Năm 1952, giữa lúc cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đang trong thời kỳ đầy khó khăn, thách thức, nhân Ngày Quốc tế Phụ nữ 8-3, Người đã viết bài "Nam nữ bình quyền", trong đó khẳng định vị trí, vai trò của phụ nữ đối với lịch sử dân tộc: “Non sông gấm vóc Việt Nam do phụ nữ ta, trẻ cũng như già, ra sức dệt thêu mà thêm tốt đẹp, rực rỡ” . Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu ra những luận điểm thể hiện tầm nhìn chiến lược khi đặt vấn đề giải phóng phụ nữ, thực hiện quyền bình đẳng nam nữ trong tương quan phát triển của xã hội mới, của chủ nghĩa xã hội: “Nói phụ nữ là nói phân nửa xã hội. Nếu không giải phóng phụ nữ thì không giải phóng một nửa loài người. Neu không giải phóng phụ nữ là xây dựng chủ nghĩa xã hội chỉ một nửa”.
Kế thừa tư tưởng của Người, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn đặt công tác phụ nữ ở vị trí trung tâm của chiến lược đại đoàn kết toàn dân tộc. Đảng và Nhà nước ta luôn xác định bình đẳng giới là một mục tiêu chiến lược. Từ Nghị quyết số 11-NQ/TW (27/4/2007) của Bộ Chính trị của Bộ Chính trị về "Công tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước" đến nay, Đảng ta luôn khẳng định: Bình đẳng giới là chìa khóa để thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Trong văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc Đảng lần XIV, Đảng ta khẳng định: "Chăm lo xây dựng phụ nữ Việt Nam thời đại mới, phát huy truyền thống, tiềm năng, thế mạnh, trí tuệ và tinh thần làm chủ, khát vọng vươn lên của phụ nữ; tích cực xây dựng gia đình Việt Nam tiến bộ, văn minh, ấm no, hạnh phúc".
Từ truyền thống của Hai Bà Trưng và tư tưởng thời đại đã tôi luyện nên phẩm chất "Tự tin - Tự trọng - Trung hậu - Đảm đang" của phụ nữ Việt Nam hôm nay. Trong bối cảnh Việt Nam đang nỗ lực vươn mình trong kỷ nguyên mới, sự đóng góp của phụ nữ trong các lĩnh vực kinh tế số, kinh tế tri thức chính là những viên gạch vững chắc xây dựng nên chủ quyền và sức mạnh quốc gia. vai trò của phụ nữ càng trở nên then chốt. Phụ nữ Việt Nam chính là những người tiếp nối ngọn lửa truyền thống, đồng thời là lực lượng tiên phong trong mọi lĩnh vực, cùng toàn dân tộc hiện thực hóa khát vọng về một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
ThS. Bùi Thị Huyền - GVC khoa Lý luận cơ sở