Mở đầu
Theo báo cáo của DataReportal về mức độ phổ biến và sử dụng các thiết bị, dịch vụ kết nối vào năm 2025, tổng cộng có 127 triệu kết nối di động đang hoạt động tại Việt Nam vào đầu năm 2025, tương đương 126% dân số và số lượng tài khoản mạng xã hội tại Việt Nam đạt 76,2 triệu vào tháng 1/2025, tương đương 75,2% tổng dân số . Với không gian mạng phát triển bùng nổ ở Việt Nam trong những năm qua không chỉ đơn thuần là môi trường thông tin, mà đã trở thành một thị trường số rộng lớn, nơi các quy luật kinh tế biểu hiện dưới những hình thái mới và tốc độ chóng mặt. Các mạng xã hội đã định hình lại phương thức giao tiếp giữa nhà nước và công dân, đồng thời thay đổi cách thức vận hành của nền kinh tế dịch vụ - du lịch. Từ việc chỉ thực thi chính sách trên văn bản, một bộ phận CBCC đặc biệt là lãnh đạo, quản lý chính quyền cơ sở đã trực tiếp trở thành người đại diện số. Họ sử dụng chức danh, vị trí công tác của mình để quay trực tuyến, làm video quảng bá du lịch, nông sản và văn hóa địa phương (như tài khoản facebook: Bí thư xứ Mường, Minh bí thư xóm,…). Hoạt động này đã thu hút sự chú ý của dư luận, không đơn thuần là hoạt động truyền thông số hay sở thích cá nhân, mà là một lát cắt thực tiễn sinh động phản ánh sự vận hành và quá trình thay đổi của mối quan hệ lớn: Nhà nước – Thị trường – Xã hội trong bối cảnh phát triển mới và chuyển đổi số.
Bài viết giải mã hiện tượng này dưới lăng kính lý luận về Nhà nước kiến tạo và mối quan hệ Nhà nước - Thị trường - Xã hội, từ đó chỉ ra những điểm nghẽn thực tiễn và đề xuất giải pháp nhằm thể chế hóa, phát huy mặt tích cực và kiểm soát rủi ro.
1. Cơ sở lý luận về mối quan hệ Nhà nước - Thị trường - Xã hội trong nền kinh tế số
* Lực lượng sản xuất mới và sự thích ứng tất yếu của kiến trúc thượng tầng
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, sự phát triển của lực lượng sản xuất là yếu tố động nhất, cách mạng nhất, quyết định sự thay đổi của quan hệ sản xuất và toàn bộ kiến trúc thượng tầng. Trong kỷ nguyên số, thị hiếu của đám đông, dữ liệu lớn và các nền tảng xuyên biên giới đã trở thành những tư liệu sản xuất đặc biệt. Nền tảng mạng xã hội không chỉ là công cụ giao tiếp mà là những chợ đầu mối về thông tin - nơi phân bổ nguồn lực kinh tế một cách mạnh mẽ.
Sự xuất hiện của đội ngũ CBCC trên các không gian này chính là biểu hiện tất yếu của quá trình triển khai Nhà nước kiến tạo phát triển để bắt nhịp với hơi thở của lực lượng sản xuất. Nếu bộ máy hành chính chỉ vận hành bằng các phương thức quản lý kinh tế xưa cũ thì sẽ trở nên xơ cứng, chậm chạp và có nguy cơ kìm hãm sự phát triển của nền kinh tế dịch vụ - du lịch vốn đòi hỏi tốc độ và tính tương tác trực tiếp. Do đó, việc cán bộ dấn thân vào không gian số là nỗ lực cụ thể hóa chức năng kinh tế của Nhà nước, chủ động can thiệp vào quá trình lưu thông và phân phối nhằm thúc đẩy phát triển lực lượng sản xuất tại địa phương.
* Khung lý thuyết về mô hình Nhà nước kiến tạo phát triển
Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, Nhà nước không làm thay thị trường mà đóng vai trò định hướng, kiến tạo môi trường, hỗ trợ và sửa chữ những thất bại, khuyết tật của thị trường. Mô hình Nhà nước kiến tạo phát triển nhấn mạnh vào năng lực can thiệp chủ động, khôn khéo của bộ máy hành chính để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, bảo đảm công bằng xã hội.
Trong lĩnh vực du lịch và tiêu thụ nông sản ở các vùng nông thôn, miền núi, thị trường thường gặp phải trạng thái thông tin bất xứng. Người dân có sản phẩm tốt, cảnh quan đẹp nhưng thiếu vốn, thiếu kỹ năng quản bá sản phẩm, thiếu khả năng tiếp cận thị trường rộng lớn. Ở chiều ngược lại, du khách gặp khó khăn trong việc tìm kiếm các dịch vụ bản địa uy tín. Lúc này, uy tín chính trị và tư cách pháp nhân của CBCC trở thành một chứng thư bảo lãnh vô hình. Khi CBCC quảng bá, họ đang thực thi vai trò kiến tạo, chính là dùng uy tín công vụ để hạ thấp chi phí giao dịch cho toàn xã hội, kết nối cung - cầu, và dẫn dắt người dân bước vào chuỗi giá trị số.
* Hàng hóa công cộng và thương hiệu địa phương
Dưới lăng kính kinh tế học công cộng, thương hiệu du lịch, văn hóa bản địa và hình ảnh của một địa phương mang tính chất của hàng hóa công cộng – có tính không cạnh tranh và không loại trừ. Việc xây dựng và duy trì hàng hóa công cộng này đòi hỏi nguồn lực lớn mà các hộ kinh doanh cá thể không thể tự đảm đương. Khi CBCC đứng ra quảng bá cảnh quan thiên nhiên hay bản sắc văn hóa chung, họ đang thực hiện chức năng cung ứng hàng hóa công cộng, tạo ra ngoại ứng tích cực lan tỏa lợi ích kinh tế cho toàn bộ cộng đồng dân cư trên địa bàn. Hơn nữa, đội ngũ CBCC chính là cầu nối trực tiếp đưa chủ trương, chính sách vào thực tiễn đời sống. CBCC với nguồn lực thông tin và sự am hiểu sâu sắc địa bàn khi thực hiện quảng bá, phát ngôn, với vị thế và uy tín của mình sẽ thu hút được sự chú ý lắng nghe của cộng đồng và lan nhanh chóng lan tỏa trên thị trường số.
2. Phân tích hoạt động CBCC phát sóng trực tiếp, quay quảng bá, thúc đẩy phát triển kinh tế địa phương
* Những tác động tích cực về mặt kinh tế - chính trị
Thứ nhất, hiện tượng này góp phần giải phóng sức sản xuất và tối ưu hóa chuỗi cung ứng. Bằng việc tương tác trực tiếp với hàng chục ngàn người xem trên không gian mạng, CBCC đã giúp cắt giảm khâu trung gian, đưa sản phẩm OCOP, nông sản địa phương trực tiếp đến tay người tiêu dùng. Dòng vốn từ thị trường được dẫn trực tiếp về các vùng lõm thông tin (nông thôn, miền núi), trực tiếp nâng cao thu nhập, tạo sinh kế bền vững cho đồng bào.
Thứ hai, hình ảnh một vị Chủ tịch hay Bí thư xã lội suối, vào rừng, mặc trang phục dân tộc giới thiệu sản phẩm đã phá vỡ định kiến về bộ máy hành chính quan liêu, xa rời quần chúng là minh chứng rõ nhất cho tư duy quản lý chuyển đổi sang tư duy phục vụ. Điều này trực tiếp củng cố niềm tin của nhân dân (yếu tố xã hội) vào sự lãnh đạo của Đảng và sự điều hành của chính quyền (yếu tố Nhà nước).
Thứ ba, mạng xã hội cung cấp cơ chế phản hồi theo thời gian thực, tăng cường thiết lập kênh giám sát và tương tác trực tiếp cho xã hội. Thông qua phần bình luận trong các buổi phát sóng trực tuyến, CBCC có thể ngay lập tức nắm bắt được thái độ của du khách, chất lượng dịch vụ, sự tham gia đóng góp ý kiến của người theo dõi để cải thiện của chất lượng dịch vụ, đầu tư cơ sở hạ tầng phù hợp, từ đó có cơ sở thực tiễn để ban hành các quyết định quản lý hành chính sát hợp, kịp thời.
* Những rào cản, xung đột lợi ích và rủi ro từ góc độ quy luật thị trường
Mặc dù mang lại hiệu ứng tích cực ở giai đoạn đầu, song khi đặt trong dài hạn, sự can thiệp trực tiếp của bộ máy hành chính vào các hoạt động mang tính thương mại vi mô bắt đầu bộc lộ những mâu thuẫn biện chứng, đe dọa phá vỡ tính cân bằng của quan hệ Nhà nước - Thị trường - Xã hội.
Một là, nguy cơ làm biến dạng quy luật cạnh tranh và phát sinh nhóm lợi ích. Quy luật cạnh tranh đòi hỏi mọi chủ thể kinh tế phải bình đẳng trước pháp luật và cơ hội tiếp cận nguồn lực. Nếu một CBCC sử dụng danh xưng công vụ (vốn đại diện cho toàn bộ địa phương) để quảng bá quá sâu, chỉ định tên tuổi cụ thể của một hợp tác xã, một homestay hay một nhãn hàng tư nhân, điều này vô tình tạo ra sự bất bình đẳng. Cơ sở được quảng bá sẽ hưởng lợi nhuận vượt trội không phải nhờ nâng cao năng suất hay chất lượng, mà nhờ sự bảo trợ hình ảnh từ quyền lực nhà nước. Nguy cơ tiềm ẩn ở đây là sự móc ngoặc, hình thành nhóm lợi ích hoặc tư lợi hóa hình ảnh công quyền, đi ngược lại bản chất của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.
Hai là, rủi ro đánh đổi tín nhiệm/uy tín công vụ. Sản phẩm du lịch và nông sản chịu sự chi phối của thị trường về chất lượng, an toàn vệ sinh và giá cả. Khi CBCC đứng ra quảng bá, du khách tin tưởng mua hàng dựa trên niềm tin vào chức danh của người đó. Nếu sản phẩm bị lỗi, dịch vụ chặt chém du khách, vệ sinh môi trường không bảo đảm, sự phẫn nộ của người tiêu dùng sẽ không chỉ nhắm vào người bán, mà trực tiếp giáng đòn vào uy tín của chính quyền. Khi đó, Nhà nước tự đẩy mình vào thế rủi ro, suy giảm niềm tin chính trị chỉ vì sự thất bại của một cá nhân/doanh nghiệp trên thị trường.
Ba là, mâu thuẫn giữa hành vi cảm xúc trên không gian số và tính chuẩn mực công vụ. Mạng xã hội vận hành dựa trên thuật toán đẩy mạnh yếu tố giải trí, kịch tính và cảm xúc. Để thu hút lượt xem, người phát sóng thường phải sử dụng ngôn ngữ đời thường, đôi khi bắt kịp xu hướng hoặc có những biểu cảm cường điệu. Điều này mâu thuẫn sâu sắc với yêu cầu về tính nghiêm cẩn, chuẩn mực, khách quan của nền hành chính công. Trong nhiều trường hợp bị dư luận công kích trên sóng trực tiếp, CBCC có thể không kiềm chế được cảm xúc, đưa ra những phát ngôn tùy tiện, hứa hẹn vượt quá thẩm quyền hoặc đe dọa xử phạt khi chưa qua quy trình thanh tra, vi phạm nghiêm trọng nguyên tắc quản lý nhà nước bằng pháp luật.
3. Giải quyết mối quan hệ Nhà nước - Thị trường - Xã hội thông qua lăng kính quản trị số
Trong bối cảnh mới, CBCC làm truyền thông trở thành tất yếu, để hoạt động này đảm bảm đúng định hướng, chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật nhà nước, cần định vị lại chính xác vị trí của từng chủ thể trong tam giác phát triển Nhà nước - Thị trường - Xã hội bối cảnh mới.
Thứ nhất, giải quyết mối quan hệ Nhà nước - Thị trường, hợp lý vừa tôn trọng quy luật khách quan, kiến tạo nhưng không can thiệp thô bạo. Nhà nước phải trở về với vai trò là người thiết lập luật chơi công bằng. CBCC chỉ nên làm truyền thông ở tầm vĩ mô: giới thiệu điểm đến chung, văn hóa bản địa chung, các chính sách ưu đãi đầu tư chung của địa phương. Việc cạnh tranh thu hút khách hàng cụ thể phải trả lại cho các doanh nghiệp, hợp tác xã và hộ kinh doanh tự quyết định dựa trên năng lực cạnh tranh cốt lõi của họ (quy luật giá trị). Nhà nước đóng vai trò “bà đỡ”, đào tạo người dân biết cách phát sóng trực tuyến, hỗ trợ hạ tầng viễn thông, thay vì làm thay, bán hàng thay cho dân.
Thứ hai, giải quyết mối quan hệ Nhà nước - Xã hội, thực hiện trao quyền và phát huy dân chủ cơ sở. Mục tiêu tối thượng của Nhà nước không phải là biến cán bộ thành những ngôi sao mạng xã hội, mà là thông qua cán bộ để kích hoạt năng lực tự quản, tự cường của cộng đồng xã hội. CBCC dùng sự tiên phong của mình để phá bỏ rào cản tâm lý e ngại công nghệ của bà con. Khi xã hội (người dân) đã đủ năng lực tiếp quản không gian số, Nhà nước cần rút về vị trí quản trị rủi ro, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các bên liên quan và kiểm soát các hệ lụy tiêu cực (ô nhiễm môi trường, phá vỡ cảnh quan do du lịch quá tải).
Thứ ba, giải quyết mối quan hệ Thị trường - Xã hội, đảm bảo hài hòa lợi ích, bảo vệ giá trị cốt lõi. Sự bùng nổ của thị trường du lịch nhờ truyền thông số có thể mang lại dòng tiền lớn, nhưng cũng dễ dẫn đến nguy cơ thương mại hóa cực đoan, xói mòn bản sắc văn hóa và suy thoái đạo đức xã hội. Nhà nước lúc này đứng ở giữa, sử dụng các công cụ quy hoạch, thuế, và luật pháp để định hướng thị trường phục vụ ngược lại cho sự phát triển bền vững của xã hội, bảo đảm người dân bản địa thực sự hưởng lợi từ tài nguyên văn hóa của mình chứ không bị bần cùng hóa ngay trên quê hương.
4. Quan điểm và hệ thống giải pháp thể chế hóa
Để giải quyết hài hòa các mâu thuẫn trên, đưa hoạt động truyền thông số của CBCC vào quỹ đạo chuyên nghiệp, an toàn, cần thực hiện đồng bộ các nhóm giải pháp sau:
Một là, hoàn thiện thể chế và khung pháp lý, ban hành Quy chế ứng xử của CBCC trên mạng xã hội gắn với hoạt động công vụ. Cần có văn bản pháp quy ở cấp Bộ hoặc hướng dẫn chi tiết từ chính quyền cấp tỉnh nhằm minh định rõ ranh giới giữa tư cách cá nhân và tư cách pháp nhân hành chính trên không gian mạng. Quy định rõ những gì CBCC được làm và không được làm (ví dụ: không được quảng bá độc quyền cho một thương hiệu tư nhân, không được nhận thù lao/hoa hồng từ việc phát sóng trực tuyến bán hàng địa phương).
Thiết lập cơ chế kiểm soát xung đột lợi ích: Mọi hoạt động quảng bá có phát sinh giao dịch thương mại cần được công khai minh bạch (minh bạch hóa dòng tiền, minh bạch hóa mối quan hệ nhân thân giữa cán bộ và cơ sở kinh doanh). Đưa nội dung này vào tiêu chí đánh giá, kiểm điểm cán bộ hàng năm để ngăn chặn nguy cơ hình thành nhóm lợi ích.
Hai là, thay đổi tư duy và phương thức quản trị, chuyển giao năng lực số, thay vì tự mình duy trì việc bán hàng trên mạng lưới cá nhân, cấp ủy, chính quyền địa phương cần xem đây là mô hình điểm. Bước tiếp theo là tổ chức các lớp tập huấn, mời chuyên gia về cầm tay chỉ việc, dạy cách phát sóng trực tiếp, làm video, vận hành thương mại điện tử cho Đoàn thanh niên, các hội viên Hội Liên hiệp Phụ nữ và bà con nông dân. Chỉ khi nào chủ thể của xã hội trực tiếp nắm giữ phương thức sản xuất số này, sự phát triển mới thực sự bền vững.
Cán bộ, công chức cần chú trọng quản lý rủi ro và khủng hoảng truyền thông, khi tham gia không gian mạng cần được bồi dưỡng kiến thức về an ninh mạng, kỹ năng xử lý tình huống và văn hóa giao tiếp số. Tuyệt đối tránh việc đưa ra các quyết định hành chính, các phát ngôn mang tính quyền lực nhà nước ngay trên sóng trực tiếp khi chưa thông qua quy trình pháp luật quy định.
Ba là, đầu tư hạ tầng và kiện toàn dịch vụ công, phát triển song hành truyền thông hay cùng với đầu tư hạ tầng. Địa phương cần tập trung ngân sách và nguồn lực vào việc quy hoạch lại bãi đỗ xe, xử lý rác thải, nâng cấp đường giao thông, hệ thống y tế cơ sở. Giá trị thực sự của du lịch nằm ở trải nghiệm thực tế chứ không chỉ là những khung hình đẹp trên mạng.
Khi khách du lịch tăng mạnh, các cơ quan quản lý thị trường, y tế dự phòng, cảnh sát môi trường phải tăng cường hoạt động kiểm soát, thanh tra, kiểm tra chuyên ngành để ngăn chặn tình trạng chặt chém, thực phẩm bẩn, bảo vệ uy tín lâu dài cho điểm đến.
Kết luận
Sự tham gia của CBCC vào việc sử dụng mạng xã hội quảng bá hình ảnh, sản phẩm địa phương là một chỉ báo tích cực, cho thấy bộ máy hành chính nhà nước đang có những bước chuyển mình linh hoạt để thích ứng với sự phát triển mạnh mẽ của lực lượng sản xuất trong kỷ nguyên số. Đây là sự cụ thể hóa sinh động mục tiêu xây dựng Nhà nước kiến tạo phát triển, phục vụ, đưa chính sách xích lại gần hơn với sinh kế của nhân dân.
Tuy nhiên, mọi sự vận động của kinh tế - xã hội đều chứa đựng những mâu thuẫn biện chứng. Nếu không được dẫn dắt bởi một hành lang pháp lý minh bạch và đạo đức công vụ vững vàng, hiện tượng này có thể làm méo mó các quy luật khách quan của thị trường cạnh tranh, gây rủi ro khôn lường cho hình ảnh của bộ máy công quyền.
Nhận thức đúng đắn và giải quyết tốt mối quan hệ giữa Nhà nước - Thị trường - Xã hội trong trường hợp cụ thể này đòi hỏi Nhà nước phải luôn giữ vững vị trí chủ thể kiến tạo luật chơi, tạo động lực ban đầu và tiến tới chuyển giao năng lực, trao quyền làm chủ cho cộng đồng dân cư. Chỉ khi xác lập được điểm cân bằng động giữa ba trụ cột này, việc chuyển đổi số tại các địa phương mới đi vào thực chất, vừa khơi thông tối đa nguồn lực kinh tế, vừa bảo đảm tính công bằng, minh bạch và định hướng xã hội chủ nghĩa trong tiến trình phát triển.
ThS. Phạm Thị Huế - Giảng viên Khoa Lý luận cơ sở