Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng diễn ra trong bối cảnh thế giới đang chứng kiến những biến đổi sâu sắc dưới tác động của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Sự phát triển mạnh mẽ của các công nghệ số nền tảng như trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu lớn (Big Data), điện toán đám mây (Cloud Computing), Internet vạn vật (IoT) và công nghệ chuỗi khối (Blockchain) đang làm thay đổi căn bản phương thức sản xuất, mô hình kinh doanh, phương thức quản trị quốc gia cũng như hoạt động quản trị doanh nghiệp trên phạm vi toàn cầu. Trong bối cảnh đó, Việt Nam tận dụng tốt xu thế chuyển đổi số toàn cầu sẽ tạo ra bước phát triển đột phá; ngược lại, nguy cơ tụt hậu sẽ ngày càng lớn nếu thiếu một hệ thống thể chế phù hợp và đủ năng lực dẫn dắt quá trình phát triển.
- Kinh tế số và thể chế phát triển kinh tế số
Nền kinh tế số là một nền kinh tế trong đó mạng lưới các hoạt động kinh tế và xã hội được xây dựng và diễn ra trên nền tảng các hoạt động công nghệ thông tin và truyền thông sử dụng các công nghệ kỹ thuật số. Nền kinh tế số còn được gọi là “kinh tế internet”, “kinh tế web” hay “kinh tế mới”[1]
Thể chế phát triển kinh tế số là tổng thể các chủ trương, chính sách, pháp luật, cơ chế quản lý và các thiết chế thực thi do Nhà nước thiết lập nhằm điều chỉnh, hỗ trợ và thúc đẩy các hoạt động kinh tế dựa trên công nghệ số, dữ liệu số và các nền tảng số. Thể chế này tạo lập môi trường pháp lý và điều kiện phát triển cho quá trình chuyển đổi số, đổi mới sáng tạo và hình thành các mô hình kinh doanh mới trong nền kinh tế số. Khác với thể chế của nền kinh tế truyền thống, thể chế kinh tế số phải điều chỉnh những đối tượng mang tính phi vật thể như dữ liệu, tài sản số, quyền sở hữu trí tuệ số và danh tính số. Đồng thời, thể chế này phải thích ứng với tốc độ phát triển công nghệ rất nhanh và phạm vi tác động xuyên biên giới ngày càng rộng lớn.
- Nền tảng thể chế phát triển kinh tế số theo tinh thần Đại hội XIV
Đại hội XIV của Đảng khẳng định phát triển kinh tế số là một trong những động lực chủ yếu thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia trong giai đoạn phát triển mới. Để hiện thực hóa mục tiêu đó, Đại hội xác định tiếp tục hoàn thiện thể chế phát triển theo hướng đồng bộ, hiện đại, tạo môi trường thuận lợi cho đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và ứng dụng công nghệ. Bên cạnh đó, Đại hội XIV xác định phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, đặc biệt trong các lĩnh vực công nghệ chiến lược như trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, công nghiệp bán dẫn và an ninh mạng. Chú trọng xây dựng hạ tầng số hiện đại với các cấu phần trọng yếu như Trung tâm Dữ liệu quốc gia, mạng 5G, điện toán đám mây và hệ thống kết nối số quốc gia, tạo nền tảng cho quá trình chuyển đổi số toàn diện.
Trước đó, Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về: "Đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia" thể hiện tầm nhìn chiến lược và quyết tâm chính trị mạnh mẽ của Đảng trong việc tạo lập những động lực phát triển mới cho đất nước. Việc xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là đột phá quan trọng hàng đầu không chỉ phản ánh sự đổi mới trong tư duy phát triển mà còn khẳng định vai trò quyết định của tri thức, công nghệ và dữ liệu trong nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, phát triển kinh tế số và xây dựng nền kinh tế hiện đại trong kỷ nguyên số.
- Kết quả và những điểm nghẽn thể chế trong phát triển kinh tế số ở Việt Nam
Quy mô và tốc độ tăng trưởng của kinh tế số: Trong bối cảnh chuyển đổi số đang trở thành xu thế phát triển tất yếu của nền kinh tế toàn cầu, kinh tế số ở Việt Nam đã có những bước phát triển đáng kể và ngày càng khẳng định vai trò là động lực quan trọng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, đổi mới mô hình phát triển và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.
Theo Tổng cục Thống kê, năm 2025, kinh tế số Việt Nam tiếp tục duy trì đà tăng trưởng tích cực và mở rộng quy mô trong hầu hết các lĩnh vực của nền kinh tế. Theo đó, tỷ trọng giá trị tăng thêm của kinh tế số trong GDP của nước ta liên tục tăng trong giai đoạn 2021-2025, từ 12,87% GDP năm 2021 lên 14,02% GDP năm 2025, trung bình giai đoạn này ước đạt khoảng 13,2%, trong đó ngành kinh tế số lõi đóng góp 8,13% và số hóa các ngành khác là 5,05%. Kết quả này cho thấy kinh tế số đang từng bước khẳng định vai trò là một động lực tăng trưởng mới của nền kinh tế, đồng thời phản ánh hiệu quả của các chủ trương, chính sách thúc đẩy chuyển đổi số được triển khai trong thời gian qua.
Hiện nay, kinh tế số tiếp tục giữ vai trò chủ đạo trong các ngành như công nghiệp công nghệ thông tin, viễn thông, sản xuất điện tử, phần mềm và dịch vụ số. Đồng thời, quá trình số hóa đang diễn ra ngày càng sâu rộng trong các ngành kinh tế truyền thống thông qua việc ứng dụng công nghệ số vào hoạt động sản xuất, kinh doanh, thương mại, tài chính, logistics và quản trị doanh nghiệp. Sự lan tỏa của công nghệ số không chỉ làm gia tăng giá trị gia tăng của các ngành kinh tế mà còn góp phần hình thành các mô hình kinh doanh mới, nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế.
Kết quả phát triển hạ tầng số: Trong những năm gần đây, hạ tầng viễn thông và công nghệ thông tin của Việt Nam đã có bước phát triển nhanh chóng. Tỷ lệ phủ sóng mạng di động băng rộng 4G đạt trên 99% dân số; hạ tầng cáp quang được triển khai đến hầu hết các xã, phường trên cả nước. Việt Nam hiện thuộc nhóm quốc gia có tốc độ phát triển hạ tầng viễn thông khá nhanh trong khu vực Đông Nam Á, tạo nền tảng thuận lợi cho quá trình chuyển đổi số.
Bên cạnh đó, mạng di động thế hệ mới 5G đang được đẩy mạnh triển khai tại nhiều địa phương. Việc phát triển 5G không chỉ nâng cao chất lượng kết nối mà còn tạo nền tảng cho các công nghệ mới như trí tuệ nhân tạo (AI), Internet vạn vật (IoT), sản xuất thông minh và đô thị thông minh.
Hạ tầng dữ liệu quốc gia cũng từng bước được hoàn thiện thông qua việc xây dựng và kết nối các cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, đất đai, bảo hiểm và đăng ký doanh nghiệp. Đề án 06 cùng hệ thống định danh điện tử VNeID đã góp phần quan trọng trong khai thác dữ liệu phục vụ quản lý nhà nước và phát triển kinh tế số.
Cùng với đó, thanh toán không dùng tiền mặt và hạ tầng giao dịch điện tử phát triển mạnh mẽ, thúc đẩy quá trình số hóa các hoạt động kinh tế. Việt Nam cũng đang đầu tư xây dựng các trung tâm dữ liệu và hạ tầng điện toán đám mây hiện đại, tạo nền tảng cho phát triển kinh tế dữ liệu, trí tuệ nhân tạo và các dịch vụ số thế hệ mới. Trung tâm Dữ liệu quốc gia được kỳ vọng sẽ trở thành hạ tầng cốt lõi của nền kinh tế dữ liệu trong thời gian tới.
Những điểm nghẽn thể chế trong phát triển kinh tế số ở Việt Nam
Hành lang pháp lý cho các công nghệ và mô hình kinh doanh mới còn thiếu đồng bộ. Hệ thống pháp luật về kinh tế số chưa theo kịp tốc độ phát triển của khoa học, công nghệ; Cơ chế tài chính cho khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo chưa tạo được động lực mạnh mẽ. Thủ tục quản lý và giải ngân kinh phí nghiên cứu còn phức tạp, thiếu tính linh hoạt; Nguồn nhân lực số chất lượng cao còn thiếu hụt. Chất lượng nguồn nhân lực, đặc biệt về kỹ năng thực hành, năng lực nghiên cứu và làm chủ công nghệ lõi, vẫn còn nhiều hạn chế.
- Giải pháp hoàn thiện thể chế phát triển kinh tế số theo tinh thần Đại hội XIV
Đại hội XIV và Nghị quyết số 57-NQ/TW xác định hoàn thiện thể chế là một trong những đột phá chiến lược, tạo động lực mới cho tăng trưởng. Theo đó, cần tiếp tục thực hiện các giải pháp sau:
Hoàn thiện cơ chế, chính sách phát triển hạ tầng số hiện đại, nhất là hạ tầng viễn thông thế hệ mới, trung tâm dữ liệu, điện toán đám mây và các nền tảng số quốc gia; đồng thời xây dựng thể chế phát triển kinh tế dữ liệu, bảo đảm chia sẻ, khai thác và giao dịch dữ liệu an toàn, hiệu quả.
Tập trung phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong các lĩnh vực công nghệ chiến lược như AI, khoa học dữ liệu, bán dẫn và an ninh mạng, gắn với nâng cao kỹ năng số cho toàn xã hội. Đồng thời, đổi mới quản lý nhà nước theo hướng tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, dựa trên dữ liệu; tăng cường phối hợp giữa các bộ, ngành, địa phương và đổi mới cơ chế tài chính cho khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo.
Cần tăng cường bảo đảm an ninh mạng, bảo vệ dữ liệu cá nhân và chủ quyền dữ liệu; thúc đẩy phát triển công nghệ lõi, nền tảng số do Việt Nam làm chủ, đồng thời thu hẹp khoảng cách số, hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, khu vực nông thôn và người lao động thích ứng với chuyển đổi số. Qua đó, tạo môi trường thể chế thuận lợi, thúc đẩy kinh tế số phát triển nhanh, bền vững và bao trùm.
Trong bối cảnh chuyển đổi số và cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang diễn ra mạnh mẽ, hoàn thiện thể chế phát triển kinh tế số không chỉ là yêu cầu khách quan mà còn là nhiệm vụ chiến lược đối với sự phát triển đất nước. Theo tinh thần Đại hội XIV và Nghị quyết số 57-NQ/TW, cần xây dựng hệ thống thể chế đồng bộ, hiện đại, linh hoạt và phù hợp với sự phát triển nhanh của khoa học, công nghệ. Đây là nền tảng quan trọng để khơi thông các nguồn lực, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia và đưa kinh tế số trở thành động lực tăng trưởng chủ yếu, góp phần thực hiện mục tiêu phát triển nhanh, bền vững trong kỷ nguyên số.
[1]. Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh: Giáo trình Trung cấp LLCT- Đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước Việt Nam. Nxb.Lý luận chính trị, H.2021.
[2].https://www.nso.gov.vn/su-kien/2026/01/hop-bao-cong-bo-tinh-hinh-kinh-te-xa-hoi-quy-iv-va-nam-2025/?utm_source=chatgpt.com
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.
2. Bộ Chính trị (2024), Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
3. Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh: Giáo trình Trung cấp LLCT- Đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước Việt Nam. Nxb.Lý luận chính trị, H.2021.
4. Tổng cục Thống kê (2026), Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội quý IV và năm 2025.
Th.S Bùi Thị Huyền - Giảng viên chính Khoa Lý luận cơ sở