Trong bối cảnh toàn cầu hóa và chuyển đổi số diễn ra mạnh mẽ, Việt Nam đang đứng trước những cơ hội lớn để bứt phá phát triển, đồng thời cũng phải đối mặt với nhiều thách thức phức tạp, đòi hỏi phải đổi mới mạnh mẽ phương thức quản lý và hoàn thiện thể chế. Trong tiến trình đó, pháp luật giữ vai trò đặc biệt quan trọng, không chỉ là công cụ quản lý nhà nước mà còn là nền tảng để kiến tạo phát triển, điều chỉnh các quan hệ xã hội và định hướng hành vi của các chủ thể. Văn kiện Đại hội XIV của Đảng đã khẳng định rõ yêu cầu “tiếp tục hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển, trước hết là thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, bảo đảm đầy đủ, đồng bộ, hiện đại, hội nhập”{1}. Đây là định hướng mang tính chiến lược, đặt ra yêu cầu cấp thiết phải tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật phù hợp với yêu cầu phát triển nhanh và bền vững trong giai đoạn mới.
Thực tiễn thời gian qua cho thấy, hệ thống pháp luật Việt Nam đã có những bước phát triển quan trọng, góp phần hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, tạo môi trường pháp lý thuận lợi cho hoạt động đầu tư, kinh doanh và hội nhập quốc tế. Tuy nhiên, trước yêu cầu phát triển mới, hệ thống pháp luật vẫn còn bộc lộ không ít hạn chế. Văn kiện Đại hội XIV đã chỉ rõ: “hệ thống pháp luật còn một số bất cập, chưa thật sự đồng bộ, thống nhất; chất lượng một số văn bản chưa cao, tính khả thi còn hạn chế”{2}. Tình trạng chồng chéo, mâu thuẫn giữa các văn bản quy phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn tồn tại; một số quy định còn mang tính khung, thiếu cụ thể; việc tổ chức thi hành pháp luật ở một số nơi chưa nghiêm, hiệu lực, hiệu quả chưa cao. Những hạn chế này không chỉ ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý nhà nước mà còn làm giảm niềm tin của người dân và doanh nghiệp.
Trên cơ sở nhận diện những tồn tại đó, việc hoàn thiện hệ thống pháp luật theo tinh thần Đại hội XIV cần được triển khai một cách toàn diện, đồng bộ và có trọng tâm, trọng điểm. Trước hết, cần bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất của hệ thống pháp luật. Đây là yêu cầu mang tính nền tảng nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả của pháp luật. Việc rà soát, hệ thống hóa pháp luật cần được tiến hành thường xuyên, kịp thời phát hiện và xử lý các quy định chồng chéo, mâu thuẫn, không còn phù hợp với thực tiễn. Đồng thời, cần đổi mới tư duy xây dựng pháp luật theo hướng giảm bớt tầng nấc, loại hình văn bản, tăng cường luật hóa các vấn đề quan trọng, hạn chế tối đa việc ban hành văn bản dưới luật tràn lan.
Bên cạnh đó, pháp luật phải thực sự trở thành động lực thúc đẩy phát triển nhanh và bền vững. Đại hội XIV nhấn mạnh định hướng “phát triển nhanh và bền vững dựa chủ yếu vào khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số” {3}. Điều này đòi hỏi hệ thống pháp luật phải kịp thời thể chế hóa các lĩnh vực mới như kinh tế số, dữ liệu số, trí tuệ nhân tạo, đồng thời tạo hành lang pháp lý thuận lợi để thúc đẩy đổi mới sáng tạo, phát triển doanh nghiệp và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Pháp luật không chỉ dừng lại ở việc điều chỉnh mà còn phải đóng vai trò dẫn dắt, mở đường cho các mô hình phát triển mới.
Một yêu cầu quan trọng khác là bảo đảm công bằng xã hội và phát triển bền vững. Văn kiện Đại hội XIV xác định rõ “gắn kết chặt chẽ giữa phát triển kinh tế với phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, bảo vệ môi trường” {4}. Do đó, hệ thống pháp luật cần chú trọng hoàn thiện các quy định liên quan đến an sinh xã hội, bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu, phát triển bền vững các vùng, miền. Việc hoàn thiện pháp luật theo hướng này không chỉ bảo đảm mục tiêu phát triển toàn diện mà còn tạo nền tảng cho sự ổn định lâu dài của đất nước.
Đồng thời, cần đặc biệt chú trọng nâng cao chất lượng công tác xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật. Văn kiện Đại hội XIV nhấn mạnh yêu cầu “đổi mới quy trình xây dựng pháp luật, nâng cao chất lượng hệ thống pháp luật, bảo đảm tính thống nhất, khả thi, công khai, minh bạch” {5}, đồng thời “tăng cường kỷ luật, kỷ cương trong tổ chức thực hiện pháp luật; nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước” {6}. Điều này đòi hỏi quá trình xây dựng pháp luật phải dựa trên cơ sở khoa học, tổng kết thực tiễn, tăng cường tham vấn ý kiến của các đối tượng chịu sự tác động, bảo đảm các quy định ban hành có tính khả thi cao. Mặt khác, tổ chức thi hành pháp luật cần được xác định là khâu then chốt, với việc nâng cao trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức và cá nhân, tăng cường kiểm tra, giám sát và xử lý nghiêm các hành vi vi phạm.
Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia, việc ứng dụng công nghệ trong xây dựng và thực thi pháp luật là yêu cầu tất yếu. Văn kiện Đại hội XIV đã chỉ rõ nhiệm vụ “đẩy mạnh xây dựng Chính phủ số, xã hội số, kinh tế số” {7}. Do đó, cần đẩy mạnh số hóa hệ thống pháp luật, xây dựng cơ sở dữ liệu pháp luật quốc gia thống nhất, công khai, minh bạch, giúp người dân và doanh nghiệp dễ dàng tiếp cận và thực hiện pháp luật. Đồng thời, việc ứng dụng công nghệ số trong quy trình xây dựng và ban hành pháp luật sẽ góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả quản lý nhà nước.
Ngoài ra, việc hoàn thiện hệ thống pháp luật cần gắn với yêu cầu hội nhập quốc tế sâu rộng. Trong điều kiện Việt Nam tham gia nhiều hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, hệ thống pháp luật trong nước cần tiếp tục được hoàn thiện theo hướng tương thích với các cam kết quốc tế, đồng thời bảo đảm giữ vững lợi ích quốc gia, dân tộc. Đây là yêu cầu vừa mang tính pháp lý, vừa mang tính chiến lược trong bối cảnh toàn cầu hóa.
Có thể khẳng định rằng, hoàn thiện hệ thống pháp luật theo tinh thần Đại hội XIV của Đảng không chỉ là yêu cầu mang tính kỹ thuật pháp lý mà còn là nhiệm vụ chính trị có ý nghĩa chiến lược. Một hệ thống pháp luật đồng bộ, thống nhất, minh bạch, khả thi và hiện đại sẽ là nền tảng vững chắc để xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, đồng thời tạo động lực mạnh mẽ cho phát triển nhanh và bền vững trong giai đoạn mới.
-----
{1}. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.
{2,3}. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.
{4, 5, 6, 7}. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.
Ths. Nguyễn Thị Hằng - Giảng viên khoa Nhà nước & pháp luật